Bài đăng

Đang hiển thị bài đăng từ Tháng 9, 2017

Viêm màng não ở người lớn

Viêm màng não là tình trạng nhiễm trùng của màng não có khả năng đe dọa mạng sống (màng não là một màng mô chắc bao xung quanh não và tủy sống). Nếu không được điều trị, viêm màng não có thể dẫn đến phù não và gây ra liệt vĩnh viễn, hôn mê và có thể tử vong. Viêm màng não có rất nhiều nguyên nhân, bao gồm nhiễm trùng (nặng nề nhất), virus, nấm, phản ứng phụ của thuốc, các chất độc hại từ môi trường chẳng hạn như kim loại nặng. Viêm màng não do vi trùng và nấm cần phải được nhập viện, còn viêm màng não do virus thường được điều trị tại nhà và có tiên lượng tốt hơn nhiều. Viêm màng não do vi trùng: Là dạng nguy hiểm nhất của viêm màng não, hằng năm có khỏang 3.000 – 5.000 người mắc bệnh tại Mỹ. Khỏang 20% - 25% bệnh nhân bị viêm màng não do vi trùng tử vong, ngay cả khi được điều trị. Nếu viêm màng não do vi trùng diễn tiến nhanh trong vòng 24 giờ hoặc sớm hơn, thì nguy cơ tử vong có thể cao hơn 50%, ngay cả khi được điều trị thích ...

Glaucoma

Glaucoma là từ dùng để chỉ một số bệnh về mắt có thể gây ảnh hưởng đến dây thần kinh thị giác và gây mù. Hầu hết, nhưng không phải là tất cả, các bệnh glaucoma thường tạo ra một tình trạng tăng áp lực bên trong mắt, còn được gọi là tình trạng tăng áp lực nội nhãn. Áp lực nội nhãn bình thường được tính bằng milimet thủy ngân và có trị số từ 10 - 21 mm Hg. Tăng áp lực nội nhãn là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây ra bệnh glaucoma. Tình trạng tăng áp lực nội nhãn đôi khi còn được gọi là tình trạng tăng nhãn áp. Khi bác sĩ chẩn đoán bạn bị tăng nhãn áp không có nghĩa là bạn đã bị bệnh glaucoma mà điều đó có nghĩa là bạn đang có nguy cơ cao bị glaucoma mà thôi, do đó bạn nên được khám mắt thường xuyên bởi một bác sĩ nhãn khoa. Một nửa số người bị glaucoma thường không biết mình bị bệnh cho đến khi thị lực của họ bị giảm trầm trọng. Có nhiều yếu tố có liên quan đến sự gia tăng nguy cơ bị glaucoma, trong đó có một số yếu tố sau: tăng nhãn áp, tiền sử gia đình, c...

Bệnh thủy đậu

Bài giảng BS.Tạ Thị Diệu Ngân BỆNH THỦY ĐẬU.pdf (341.81 KB) Theo nguồn tin từ www.moh.gov.vn ( bộ y tế ) Bệnh thủy đậu Thủy đậu là một bệnh truyền nhiễm cấp tính gây dịch do virut Varicella zoster gây ra. Biểu hiện lâm sàng là sốt, phát ban dạng nốt phỏng ở da và niêm mạc Bệnh thường nhẹ nhưng rất dễ lây. Người bệnh là nguồn lây duy nhất. Người ốm làm lây bệnh ngay từ khi có triệu chứng đầu tiên cho đến khi nốt đậu đóng vảy (thường ở ngày thứ 7 kể từ khi đậu mọc). Virut từ đờm dãi, nước mũi, nước bọt trẻ ốm bắn sang người lành khi nói, ho hoặc hắt hơi, xâm nhập vào cơ thể qua mũi-họng, rồi theo đường máu đến cư trú ở lớp tế bào thượng bì da và niêm mạc (niêm mạc miệng, kết mạc mắt…) và gây nên những nốt phỏng ở đó. Tỷ lệ mắc bệnh thường cao ở các đô thị, nơi đông dân và trong những tháng lạnh. Tuổi mắc nhiều nhất là 2-7 tuổi, ít khi gặp ở trẻ dưới 6 tháng. Người lớn cũng mắc nếu như lúc nhỏ chưa mắc. Sau một thời gian ủ bệnh chừng 14-15 ngày thì bệnh phát. Trong n...

Đại cương về bỏng

ĐẠI CƯƠNG VỀ BỎNG Mục tiêu học tập: Trình bày được các nguyên nhân gây nên bỏng. Nắm được cách tính diện tích và xác định độ sâu của bỏng Trình bày được diễn biến lâm sàng của bỏng. Trình bày được cấp cứu ban đầu của bỏng - Bỏng là một cấp cứu thường gặp trong cuộc sống đời thường. Thỉnh thoảng phải cấp cứu bỏng hàng loạt. - Đến 80 % tổng số bệnh nhân là bỏng nông trên diện hẹp, chiếm dưới 20% diện tích da của cơ thể. Đối với loại bỏng này, điều trị rất đơn giản: cho bệnh nhân nghỉ ngơi, giảm đau và chống bội nhiễm. - Số 20 % còn lại là bỏng vừa rộng vừa sâu. Loại này rất nặng, cần phải tập trung hồi sức tích cực, đặc biệt trong 8 giờ đầu. Tỷ lệ tử vong loại này còn rất cao. 2.2. Nguyên nhân của bỏng : - Bỏng do nhiệt: do nước sôi, do bỏng xăng… Có thể bỏng do nhiệt độ thấp: nước đá, nitơ lạnh…- Bỏng do tia lửa điện (đặc biệt là điện cao thế), do sét đánh. - Bỏng do hoá chất: phospho, acid, xút… - Bỏng do phóng xạ. 2.3. Cách tính diện tích b...

Chấn thương mắt

I- ĐẠI CƯƠNG * Chấn thương mắt là một chuyên đề lớn bao gồm: - Đụng dập . - Vết thương. - Bỏng mắt : sẽ được giới thiệu ở một bài riêng, vì vậy trong bài này chỉ giới hạn ở đụng dập và vết thương. * Nói chung các tổn thương của chấn thương mắt gây ra là phức tạp, di chứng nặng nề và tỉ lệ mù loà cao vì vậy vấn đề phòng tránh chấn thương mắt cần được coi trọng đúng mức. * Ở các tuyến chuyên khoa sâu, việc xử trí chấn thương mắt ngày nay đạt được những thành tựu khá nhờ kính vi phẫu và phương tiện dụng cụ vi phẫu. Ở các tuyến cơ sở vẫn còn gặp nhiều sai sót trong xử trí ban đầu cho nên cán bộ y tế cần được trang bị kiến thức cơ bản. CHẤN THƯƠNG MI VÀ LỆ BỘ 2.1. Đụng dập và tụ máu: Những va chạm với vật tù đầu không gây rách bề mặt da nhưng có thể gây bầm dập tổ chức, mi sưng nề khó mở mắt. Máu tụ ở vùng bầm dập gây bầm tím nhưng sẽ tiêu đi và thường là không để lại di chứng, tuy nhiên cũng nên có những tác động điều trị để hạn chế chảy máu, tăng nhanh quá trình tiêu m...